Ai nắm giữ 8,12% vốn điều lệ của MHBS?

Như đã thông tin trước đó, ông Huỳnh Nam Dũng (nguyên Chủ tịch HĐQT MHB) và 15 bị cáo nguyên là nhân viên, cán bộ của Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB - nay đã sáp nhập vào BIDV) và Công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHBS) bị cáo buộc làm thất thất thoát hơn 349 tỉ đồng của MHB.

Tháng 11/2018, TAND TP HCM đã tuyên phạt các bị cáo từ từ 3 năm tù treo đến 13 năm tù. Trong đó, ông Dũng bị cấp toà này cáo buộc về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

Theo bản án của TAND TP.HCM, ông Dũng có số vốn góp tại MHBS là 13,8 tỷ đồng, chiếm 8,12% vốn điều lệ. Lợi dụng chức vụ và quyền hạn của mình, ông Dũng đã có động cơ vụ lợi để hưởng lợi số tiền 460 triệu đồng.

Tham gia bào chữa tại các phiên toà sơ thẩm, LS của ông Dũng liên tục đưa ra các lập luận để chứng minh ông Dũng vô tội trong vụ án.

Cụ thể, các LS trình bày, MHBS được thành lập từ 11/8/2016 có vốn điều lệ là 60 tỷ đồng, trong đó MHB là cổ đông sáng lập với số vốn góp chiếm 60% vốn điều lệ của MHBS. Sau đó, ông Dũng được cử làm người đại diện góp vốn của MHB khi thành lập MHBS.

Trong thời gian từ 2006 – 2007, bà Huỳnh Thị Minh Trí (chị gái ông Dũng) đã góp vốn vào MHBS dưới hình thức uỷ thác đầu tư cho cổ đông sáng lập. Toàn bộ quá trình bà Trí mua cổ phiếu của MHBS từ các cổ đông của MHBS là ông Hoàng Bá Trung và Công ty CP Đầu tư và Du lịch Nam Hải và bà Huỳnh Minh Tuệ đã được thể hiện rõ qua các Hợp đồng chuyển nhượng và phiêú chuyển tiền.

Bên cạnh đó, trong đơn giải trình đến TAND TP.HCM, bà Trí cũng nhấn mạnh, nội dung nêu trong Cáo trạng về lời khai của bà Trí liên quan đến việc góp vốn và sở hữu cổ phần của MHBS không chính xác. Theo bà Trí, bà chính là người mua cổ phần của MHBS và là người sở hữu 13,8 tỷ đồng cổ phần của MHBS bằng việc mua cổ phần của MHBS qua các giai đoạn khác nhau.

Từ những lập luận trên, các LS khẳng định, ông Dũng không hề góp vốn tại MHBS và để cho bà Huỳnh Thị Minh Trí đứng tên theo như cáo buộc.

Trong đơn giải trình đến TAND TP.HCM, bà chính là người mua cổ phần của MHBS và là người sở hữu 13,8 tỷ đồng cổ phần của MHBS bằng việc mua cổ phần của MHBS qua các giai đoạn khác nhau. 

Giải thích về cáo buộc này, ông Dũng chia sẻ, “việc Cơ quan điều tra và VKS bỏ qua những chứng cứ thể hiện Bà Trí là người giao dịch, mua bán cổ phần của MHBS mà chỉ dựa vào việc tôi chuyển hộ chị tôi số tiền để mua số cổ phần khi MHBS phát hành thêm cho cổ đông nội bộ để cho rằng, tôi sở hữu cổ phần ở MHBS là mang tính quy chụp, không khách quan và không có cơ sở pháp lý. Tôi chỉ là người đại diện phần góp vốn của MHB tại MHBS (60%) và không có vốn cá nhân tại MHBS”.

Bên cạnh đó, ông Dũng khẳng định, không có bất kỳ tài liệu, giấy tờ nào kể từ khi MHBS được thành lập cho đến nay thể hiện việc ông có nắm bất kỳ cổ phần tại MHBS. Vì vậy, không có cơ sở buộc tội ông phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” trong vụ án này.

“Toà chưa xem xét về diễn biến thời gian xảy ra vụ án…”

Tại các phiên toà sơ thẩm cũng như tại Cơ quan điều tra ông Dũng luôn khai, ông không thực nhận số tiền 460 triệu đồng được xem là tiền hưởng lợi cá nhân trong vụ án.

Tham gia bào chữa cho ông Dũng, các LS cùng đồng quan điểm rằng, ông Dũng không hề có động cơ, hành vi vụ lợi trong vụ án.

“Các khoản thù lao tại MHBS phải được thể hiện bằng một mục riêng tại các báo cáo tài chính hằng năm của công ty và phải được HĐQT báo cáo cho ĐHĐCĐ để thông qua. Thế nhưng, tại Báo cáo tài chính các năm 2007 – 2010 đã được kiểm toán bởi đơn vị kiểm toán độc lập, khoản chi thù lao cho HĐQT này hoàn toàn không xuất hiện trong các báo cáo tài chính đó”, LS bào chữa cho ông Dũng trình bày.

Ông Dũng mong muốn, TAND Cấp cao tại TP.HCM xem xét đầy đủ bản chất của vụ án để tránh oan sai.

Bên cạnh đó, trong toàn bộ hồ sơ vụ án, không có bất kỳ giấy tờ, tài liệu, biên nhận nào thể hiện ông Dũng là người nhận số tiền thù lao cho chức danh chủ tịch HĐQT của MHBS 10 triệu đồng/tháng trong 4 năm (2007 – 2010) là 460 triệu đồng.

Các LS cho rằng, khoản tiền 460 triệu đồng theo ghi nhận của chứng từ kế toán là chi phí hoạt động của HĐQT, đã được hạch toán vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp và đã được quyết toán một cách hợp pháp hàng năm. Nếu cho rằng việc chi thù lao (hay chi phí hoạt động cho Chủ tịch HĐQT) mỗi tháng 10 triệu đồng từ năm 2007 đến năm 2010 là có thực, thì cho đến nay không có bất kỳ văn bản nào của cấp có thẩm quyền hoặc cơ quan quản lý cho rằng đây là khoản chi sai và yêu cầu xuất toán số tiền này. Vì vậy, bất kể việc ông Dũng có hay không có nhận khoản tiền này, cũng hoàn toàn không liên quan đến Vụ án.

Tại toà, bà Lữ Thị Thanh Bình (TGĐ Công ty MHBS) cũng thừa nhận rằng, trong thời gian từ 2007 – 2010, Công ty MHBS đã chi tiền thù lao chức danh Chủ tịch HĐQT cho ông Dũng hàng tháng, mỗi tháng 10 triệu đồng, tổng số tiền đã chi là 460 triệu đồng.

Như vậy, các khoản chi này xảy ra từ năm 2007 – 2010, còn việc chuyển tiền chờ mua TPCP của SGD cho MHBS được thực hiện từ năm 2011 đến 2014.

Có thể hiểu rằng, khoản tiền 460 triệu đồng đã được chi từ  năm 2010 trở về trước, tức là trước khi vụ án xảy ra trong giai đoạn từ năm 2011 – 2014. Chiếu theo mốc thời gian thì rõ ràng, khoản tiền 460 triệu không hề liên quan gì đến việc MHB chuyển tiền chờ mua TPCP cho MHBS. Thế nhưng, TAND TP.HCM lại không xem xét chi tiết này.

Liệu rằng, việc ông Dũng bị quy kết vào tội lợi dụng chức vụ quyền hạn để hưởng lợi số tiền 460 triệu đồng là có cơ sở hay không? Toàn diện vụ án trên cơ sở đánh giá có đúng người, đúng tội và không có oan sai?

Hà Lam