Đương sự đã có nhiều đơn kiến nghị gửi đến toà để sớm kết thúc vụ án. Tuy nhiên, đến nay vụ án vẫn “dậm chân tại chỗ” và cũng không có văn bản trả lời khiến cho quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bị xâm phạm nghiêm trọng.

Theo nội dung đơn, cùng các tài liệu kèm theo của ông Nguyễn Trí Sinh (SN 1989, thường trú tại: 48 An Đà, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, TP. Hải Phòng) - bị đơn trong vụ án dân sự thể hiện:

Ngày 13/6/2012 ông Sinh làm hợp đồng giao dịch, mua của ông Vũ Phong Hải một phần đất có diện tích 7.170 m2 và tài sản gắn liền với đất gồm 16 ki ốt, 43 phòng trọ và 01 căn nhà 01 trệt, 01 lầu thuộc thửa đất số 664, tờ bản đồ 06 toạ lạc tại xã Tam Phước, TP. Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai đã được UBND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận QSD đất số AĐ 988491 cho ông Vũ Phong Hải ngày 30/8/2006.

Phần diện tích đất cùng các tài sản trên đất trên được ông Sinh mua của ông Hải với số tiền là 980 triệu đồng. Việc chuyển nhượng được hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng QSD đất số 1794, quyển số 03/TP/CC-SCC/HĐGD do phòng công chứng Lê Tâm tỉnh Đồng Nai chứng nhận ngày 13/6/2012.

Sau khi các thủ tục chuyển nhượng hoàn thành, ông Sinh tiến hành làm các thủ tục theo quy định của pháp luật và đã được UBND TP. Biên Hoà cấp Giấy chứng nhận QSD đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BH 831692, số vào sổ CH 04819 ngày 27/8/2012 với phần diện tích thực tế 6.234 m2 (do đã trừ lộ giới), thuộc thửa đất số 71, tờ bản đồ số 61 (thửa mới). Đồng thời ông Sinh đã đăng ký kinh doanh và được Phòng tài chính kế hoạch TP. Biên Hoà cấp giấy kinh doanh số 47A.8037034 ngày 05/02/2013 để cho thuê các hộ dân thuê kinh doanh buôn bán và để ở trên khu đất này.

Trong thời gian này, do bận công việc nên ông Sinh đã uỷ quyền cho ông Nguyễn Sơn Nam thay mặt ông Sinh quản lý và trông coi việc các hộ thuê ở và kinh doanh.

Tuy nhiên, một sự việc theo ông Sinh là quá phi lý đã xảy ra khi ngày 01/01/2014 xuất hiện ông Nguyễn Kim Quang đến khu đất hợp pháp mà ông Sinh đang sử dụng và cho rằng phần đất mà ông Sinh nhận chuyển nhượng từ ông Hải trước đó là tài sản thừa kế do mẹ ông Quang là bà Vũ Thị Tuyết Mai để lại và yêu cầu ông Sinh phải giao lại cho ông Quang khu đất trên với lý do cho rằng, tài sản này trước đây là của bà Vũ Thị Tuyết Mai (mẹ ông Quang) nhờ ông Vũ Phong Hải đứng tên.

“Sau khi ông Quang đến yêu cầu giao đất đã gây áp lực đối với ông Nam đang trông coi đất và buộc ông Nam (đã lớn tuổi) phải chuyển đi nơi khác, đồng thời ông Quang chiếm toàn bộ khu đất và tự ý thu tiền của các hộ kinh doanh, thuê mặt bằng tại đây suốt nhiều năm qua. Đây là hành đông ngang nhiên xâm chiếm bất chấp pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của tôi” – ông Sinh cho hay.

Sau đó, ông Quang lại khởi kiện ông Sinh ra toà với lý do cho rằng đây là tài sản thừa kế của mẹ ông Quang là bà Vũ Thị Tuyết Mai để lại và yêu cầu toà án huỷ giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho ông Sinh.

Ngày 18/4/2014 TAND tỉnh Đồng Nai có thông báo về việc thụ lý vụ án dân sự số 17/2014/TLST-DS về việc “Yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng QSD đất” theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Kim Quang.

Theo nội dung đơn khởi kiện của ông Nguyễn Kim Quang cho rằng: “Mẹ ông Quang là bà Vũ Thị Tuyết Mai (SN 1952), Quốc tịch Hoa Kỳ, đã mất năm 2012, trước đây thường xuyên về Việt Nam làm ăn buôn bán, tạo lập một số tài sản là đất và công trình xây dựng trên đất để chuẩn bị cho dự án kinh doanh siêu thị, trong đó có thửa đất số 664, tờ bản đồ 06 tại xã Tam Phước, huyện Long Thành (nay là TP. Biên Hoà), diện tích 7.170 m2. Bà Mai đã nhờ cháu là Vũ Phong Hải đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất số AĐ 988491 do UBND huyện Long Thành cấp ngày 30/8/2006 nhưng thực tế bà Mai là người trực tiếp quản lý sử dụng.

Ngày 27/02/2007, ông Vũ Phong Hải viết giấy xác nhận với nội dung: Đất không phải đất của mình mà chỉ đứng tên hộ cho bà Mai… Sau khi bà Mai chết, ông Vũ Phong Hải đã ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất này cho ông Nguyễn Trí Sinh mà không có ý kiến của anh em ông Quang. Vì vậy, với tư cách là người thừa kế của bà Mai, ông Quang khởi kiện yêu cầu toà án huỷ giấy chứng nhận QSD đất giữa anh ông Hải và ông Sinh.

Tuy nhiên, ngay sau khi toà thụ lý vụ án phía ông Sinh đã có đơn kiến nghị gửi cho toà để phản tố trước đơn khởi kiện của ông Quang trong đó có nội dung khẳng định chủ quyền hợp pháp của thửa đất đã mua của ông Vũ Hải Phong đã được các cơ quan có thẩm quyền công nhận, đã có chủ quền hoàn toàn hợp pháp.

Cụ thể: Phía ông Sinh khẳng định rằng, trong vụ kiện này khi khởi kiện thì ông Nguyễn Kim Quang không cung cấp được cho toà án những chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ hợp pháp. Các chứng cứ ông Quang cung cấp là Giấy chứng nhận QSD đất số AĐ 988491 do UBND huyện Long Thành cấp ngày 30/8/2006 và Giấy xác nhận viết tay được cho rằng của ông Vũ Phong Hải.

Tuy nhiên, theo Giấy chứng nhận QSD đất này thì người sử đụng đất là ông Vũ Phong Hải chứ hoàn toàn không có bất cứ sự liên quan nào của bà Mai (mẹ ông Quang) và ông Quang. Hơn nữa, ngày 13/6/2012 UBND TP. Biên Hoà đã cấp giấy chứng nhận QSD đất mới số BH 831692 cho ông Nguyễn Trí Sinh hoàn toàn hợp pháp. Như vậy, tại thời điểm này ông Vũ Hải Phong không còn bất kỳ quyền lợi nào liên quan đến thửa đất này nữa nhưng toà án lại coi đây là căn cứ để thụ lý là không hợp lý.

Đối với giấy xác nhận viết tay được cho là của ông Vũ Hải Phong xác nhận chỉ đứng tên giùm bà Mai, thì đây chỉ là văn bản viết tay, không có bất cứ xác nhận nào của cơ quan có thẩm quyền chứng thực thì không thể có căn cứ chứng minh ông Hải đứng tên hộ cho bà Mai.

Từ những căn cứ trên, luật sư Nguyễn Hùng Cường – Đoàn luật sư TP. Hải Phòng là người đại diện theo uỷ quyền cho ông Nguyễn Trí Sinh tham gia vụ án này cho rằng: Ông Nguyễn Kim Quang không có bất cứ chứng cứ nào đảm bảo giá trị về pháp lý để chứng minh ông Quang có quyền khởi kiện huỷ hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa ông Vũ Phong Hải và ông Nguyễn Trí Sinh.

Trong trường hợp này toà án cần căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 168 BLTTDS ra Quyết định trả lại đơn khởi kiện. Việc toà án thụ lý kéo dài đến nay ông Sinh là người đang bị thiệt hại nghiêm trọng bởi nhà cửa, đất đai của mình không được sử dụng, số tiền thu nhập từ việc kinh doanh các phòng trọ, ki ốt lên cả gần trăm triệu/ tháng cũng bị mất.

Đối với thời gian giải quyết vụ án: Điều 179 BLTTDS năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 (có hiệu lực tại thời điểm vụ án) quy định thời hạn chuẩn bị xét xử như sau:

1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

Vụ án này được TNND tỉnh Đồng Nai thụ lý vào ngày 18/4/2014 và sau đó là thụ lý vu án (bổ sung) ngày 11/3/2015 và thụ lý vụ án (bổ sung lần 2) ngày 09/4/2015. Sau đó có các yêu cầu phản tố nên TAND tỉnh Đông Nai tiếp tục thụ lý tiếp các yêu cầu phản tố. Đến ngày 18/7/2016 là thời điểm cuối cùng thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn là ông Nguyễn Trí Sinh.

Như vậy, tính đến thời điểm này đã hơn 03 năm đối thời điểm cuối cùng thụ lý theo yêu cầu phản tố và hơn 05 năm từ ngày toà thụ lý vụ án (18/4/2014) nhưng vụ án vẫn chưa đưa ra xét xử.

Cho đến nay, phía bị đơn đã gửi nhiều đơn kiến nghị đề nghị xem xét về thời hiệu xét xử, yêu cầu toà sớm đưa vụ án ra xét xử để tránh gây thiệt hại ngày càng lớn cho đương sự. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa thấy thông tin hay văn bản trả lời của toà về việc trên.

Trên tinh thần thượng tôn pháp luật, kính chuyển toàn bộ nội dung đơn kiến nghị của đương sự đến TAND tỉnh Đồng Nai xem xét giải quyết, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.      

Ban Pháp Luật