Ông Vương Đình Hợi (huyện Sóc Sơn, Hà Nội) là người đại diện theo ủy quyền cho ông N.K.H. (trú tại TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đã phản ánh tới báo về vụ việc trên. Theo kế hoạch, đất này được UBND phường giao cho Công ty Cổ phần Phát triển Công viên cây xanh và Đô thị Vũng Tàu.

Toàn bộ cây xanh trên khu đất của ông H. đã bị cưỡng chế đốn hạ.

Công an vào cuộc, nguồn gốc đất rõ ràng của ông H.

Theo đơn phản ánh, ông H. cho biết, năm 2003 bà L.T. N. L (là vợ) nhận chuyển nhượng lô đất nêu trên từ ông Phùng Quốc Trọng. Khi mua có đầy đủ giấy tờ chứng minh về nguồn gốc đất bao gồm: Đơn xin xác nhận nguồn gốc và quá trình sử dụng đất khai hoang năm 1992; Biên bản xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất năm 1994, tất cả đều được UBND phường 2, TP.Vũng Tàu (nay là phường Thắng Tam), xác nhận. Ngoài ra còn có Biên lai thu thuế nhà, đất năm 1993; Biên lai thu thuế nông nghiệp năm 1993 của Chi cục Thuế TP. Vũng Tàu.

Mặc dù nguồn gốc đất đã rõ ràng, thế nhưng UBND phường lại xác định đây là đất công và ban hành quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai và cưỡng chế đối với ông H. Sau đó Chủ tịch UBND phường Thắng Tam Trần Quốc Toản có báo cáo và đề xuất UBND TP Vũng Tàu đưa lô đất vào diện quản lý đất công. Trên cơ sở đề xuất này, UBND TP Vũng Tàu ban hành quyết định số 6195/QĐ-UBND ngày 29/11/2017, về việc xác lập đất công đối với thửa đất của ông N.K.H. trong khi thửa đất này đã nhận chuyển nhượng từ năm 2003 có nguồn gốc từ khai phá, sử dụng từ năm 1984.

Theo ông Hợi, tại thời điểm ông Toản ra quyết định xử phạt thì thửa đất của ông H. chưa phải là đất công nên việc xử phạt là trái pháp luật. Bên cạnh đó, ông Toản xác định đây là đất công nhưng không cung cấp được bất kỳ giấy tờ gì chứng minh đất do UBND phường quản lý. “Nếu vị chủ tịch phường cung cấp được văn bản nào chứng minh UBND phường đang quản lý khu đất trước thời điểm xử phạt thì tôi sẽ chấm dứt khiếu nại, giao lại đất cho nhà nước quản lý” - ông H. viết trong đơn.

Ông Hợi khẳng định mảnh đất có nguồn gốc rõ ràng bởi năm 2003 khi vợ ông H. mua bằng giấy tay thì Luật Đất đai cho phép sang nhượng bằng giấy tay, người bán đất hiện còn sống, có địa chỉ và lời trình bày rõ ràng. Các giấy tờ về nguồn gốc đất nói ở trên đều có chứng thực của UBND phường 2 xác nhận và khẳng định với cơ quan Công an điều tra là đúng sự thật.

Thậm chí UBND phường từng chuyển hồ sơ qua công an TP Vũng Tàu đề nghị giám định chữ ký của ông H. và hình dấu trong tài liệu “Đơn xin xác nhận nguồn gốc và quá trình sử dụng đất khai hoang” ngày 17/2/1992 và “đơn xin đăng ký bổ sung đất” ngày 15/3/1995. Sau đó Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu ban hành kết luận giám định số 2020B/PC54-D93 ngày 29/5/2017 kết luận: Chữ ký và hình dấu tròn trên tài liệu cần giám định với chữ lý trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký ra và cùng một con dấu đóng ra.

Kết quả giám định chữ ký của cơ quan công an là đúng.

Như vậy, về nguồn gốc đất, việc quản lý, sử dụng đất của ông H. là rõ ràng, không phải là người đi lấn chiếm đất công như văn bản của UBND phường Thắng Tam báo cáo lên UBND TP. Vũng Tàu.

Giao đất, cưỡng chế liệu có đúng thẩm quyền?

Ngày 4/1/2019, ông H. được UBND phường Thắng Tam mời lên làm việc để giải quyết đơn khiếu nại (có lập biên bản), buổi gặp mặt này do Phó chủ tịch phường Trương Thế Hải chủ trì và có mặt của công chức địa chính xây dựng và công chức tư pháp - hộ tịch phường. Kết thúc cuộc họp UBND phường và ông H. đã thống nhất giữ nguyên hiện trạng khu đất, yêu cầu ông H. giải trình bổ sung để tiếp tục giải quyết khiếu nại. Đến ngày 21/1/2019, UBND phường ra thông báo tạm hoãn cưỡng chế với lý do đang là thời điểm giáp Tết Nguyên đán.

Tuy nhiên không hiểu vì lý do gì mà chỉ 02 ngày sau (ngày 23/1/2019) ông Toản lại lập biên bản bàn giao khu đất cho Công ty Cổ phần Phát triển Công viên cây xanh và Đô thị Vũng Tàu mà không thông báo cho ông H. Ông Hợi khẳng định đây là một việc làm trái luật bởi thửa đất đang thuộc quyền quản lý của ông H. Ông H. đã có đơn khiếu nại nhưng Chủ tịch phường không trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do mà đã tự ý giao đất cho một chủ thể khác. Hơn nữa, theo quy định của pháp luật hiện hành thì Chủ tịch phường không có thẩm quyền giao đất cho Doanh nghiệp.

Mới đây nhất, thông báo số 284/TB-UBND của UBND phường có nội dung: “Bắt đầu từ 08h30 ngày 15/03/2019, UBND phường sẽ chủ trì tổ chức lực lượng phối hợp với các cơ quan chức năng Thành phố cưỡng chế di dời toàn bộ số lượng cây trồng trên đất để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, theo Quyết định cưỡng chế số 158/QĐ-CC ngày 16/02/2017 của Chủ tịch UBND phường. Thông báo cũng yêu cầu ông H. phải có mặt tại địa điểm bị cưỡng chế, nếu cố tình vắng mặt hoặc có mặt nhưng không chấp hành thì sẽ bị kê biên, tạm giữ tài sản (nếu có) hoặc cưỡng chế di dời...”.

Theo ghi nhận thực tế, toàn bộ cây mà ông H. trồng trên khu đất đã bị đốn hạ khi tiến hành cưỡng chế dù ông H. đã có mặt đúng như trong thông báo và không có thái độ chống đối nhưng ban cưỡng chế đã ngăn không cho đại diện của chủ lô đất vào để chứng kiến, không có biên bản cưỡng chế, không tiến hành kiểm đếm tài sản theo quy định.

Ông Hợi cho rằng việc cưỡng chế này cũng sai vì 158/QĐ-CC ngày 16/02/2017 của Chủ tịch UBND phường, có nội dung cưỡng chế thi hành QĐ xử phạt hành chính trong hoạt động xây dựng đối với ông H. Nhưng thực tế trên đất của ông H. chỉ có cây trồng mà không có công trình nào, như vậy là sai đối tượng. Ngoài ra trước đó trong cuộc họp ngày 4/1/2019 phường đã thống nhất giữ nguyên hiện trạng để chờ giải quyết khiếu nại. Trong khi khiếu nại của ông H. chưa được giải quyết thì UBND phường vẫn cho lực lượng xuống cưỡng chế, việc này là trái luật.

Thiết nghĩ chính quyền cấp TP và cấp tỉnh nên cho rà soát, kiểm tra lại toàn bộ vụ việc theo tinh thần sai đến đâu xử lý đến đó để quyền lợi chính đáng công dân được bảo đảm và pháp luật được thực thi nghiêm túc.

Nhóm PV