Cũng trên mảnh đất này, những giá trị tinh thần, tư tưởng được phản ánh qua các huyền thoại về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng, An Dương Vương... Cùng với huyền thoại, truyền thuyết, là các di tích tiêu biểu như lăng mộ Kinh Dương Vương, các đền thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ, đền thờ Phù Đổng Thiên Vương ở Thuận Thành, Từ Sơn, Tiên Du... Thành cổ Luy Lâu ở xã Thanh Khương với các di tích dinh thự, phố chợ, đền đài, chùa tháp nguy nga còn lại của trung tâm chính trị, kinh tế thương mại, trung tâm Phật giáo và Nho giáo của nước ta trong thiên niên kỷ đầu công nguyên.

Kinh Bắc còn là nơi khơi nguồn văn hóa quan họ. Nói đến quan họ là nói đến nền văn hoá tổng thể hợp thành từ nhiều yếu tố văn hóa nghệ thuật dân gian trong một quá trình lịch sử lâu dài, biểu hiện những ước mơ, khao khát của người dân xứ Bắc từ nhiều đời nay đối với quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc của con người trên bình diện văn hóa - xã hội.

Ngày 30/9/2009, quan họ đã chính thức được UNESCO tôn vinh trở thành Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây không chỉ là tin vui đối với nhân dân tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh mà còn là niềm vinh dự, tự hào của nhân dân cả nước. Thời gian của quan họ là suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Nhưng mùa xuân mới thực sự là mùa của quan họ.

Người xưa đã có câu “tháng Giêng là tháng ăn chơi”, thời điểm này trên vùng quê Kinh Bắc lại ngập tràn sắc màu của lễ hội dân gian, cùng những làn điệu dân ca quan họ mượt mà, đằm thắm. Khắp ngõ xóm dập dìu các liền chị chít khăn mỏ quạ, nét mặt tươi tắn với đôi môi cắn chỉ đỏ thắm, e ấp sau vành nón thúng quai thao, duyên dáng trong bộ áo tứ thân sặc sỡ sắc màu, cùng các liền anh khăn xếp áo the, hát mừng mùa xuân, đón khách thập phương về trẩy hội bằng những câu ca mộc mạc, chân tình mà đằm thắm, thiết tha.

Câu hát đi từ đời sống, lao động

Các hội hát quan họ bao giờ cũng có hai phần, lễ và hội. Phần lễ gồm rước sắc, cúng tế, phần hội gồm hát quan họ (trong đình, ngoài làng, dưới ao…) bên cạnh một số trò chơi dân gian khác như vật, võ, đánh đu, bịt mắt đập niêu… Nhưng dù các trò chơi khác có xôm tụ thế nào thì hội hát quan họ vẫn đông vui và hấp dẫn nhất. Người quan họ hát quan họ trên thuyền, trên đồi, trong chùa, trong đình và trong các tư gia...

Khi ấy, trai gái các làng quan họ lại thường tụ tập thành từng nhóm người để cùng nhau hát. Một cặp nữ của làng này sẽ hát với một cặp nam của làng kia với một bài hát cùng giai điệu, khác về ca từ và đối giọng. Cặp hát phân công người hát dẫn, người hát luồn nhưng giọng hát của hai người phải hợp thành một giọng. Họ hát những bài ca mà lời là thơ, ca dao có từ ngữ trong sáng, mẫu mực thể hiện tình yêu lứa đôi, không có nhạc đệm kèm theo. Các câu hát là do các liền anh, liền chị tự sáng tác. Thường ngày họ là những người dân lao động cần cù, chân lấm tay bùn, nên những câu hát sáng tác của họ gắn với sinh hoạt đời thường, có khi chen cả điển tích, ca dao… thật mộc mạc, chân tình nhưng luôn thấm đẫm chất trữ tình, đằm thắm.

Các bài quan họ thường thể hiện tâm trạng tình yêu đôi lứa, khát vọng sống ấm no, hạnh phúc, nỗi nhớ mong, tương tư của người quan họ, cái sầu man mác, tương tư như lời của một làn điệu: “Để có ai xuôi về, cho em nhắn, cho em nhủ… ai bâng khuâng trong gió? Ai mải đi tìm trong chiều hội xuân…”. Mỗi câu hát đều cho thấy ý tứ của người hát, mỗi ánh mắt, nụ cười không chỉ là sự làm duyên mà còn ẩn ý bao điều muốn nói.

Các liền anh ngồi một bên, liền chị ngồi một bên, qua lời hát và cử chỉ người ta hiểu được tấm lòng của nhau. Đặc biệt, trong ngôn ngữ giao tiếp, người quan họ bao giờ cũng khiêm tốn, nhã nhặn và đề cao người đối thoại với mình. Dù các bạn quan họ ít tuổi hơn mình nhưng cả nam và nữ luôn miệng thưa gửi và xưng là “chúng em”. 

Âm điệu của quê hương, đất nước

Với người dân xứ Kinh Bắc, Tết đến, xuân về mà không được nghe một câu hát quan họ, không được xem một canh hát giao duyên thì quả thật mùa xuân chưa thực “chín”. Trẻ con ở đây từ khi mới sinh ra đã được ông, bà, cha, mẹ hát ru bằng những làn điệu dân ca quan họ truyền thống và các thế hệ cứ tiếp nối nhau hát quan họ, người trước truyền dạy người sau. Ngày nay, từ trẻ em đến người già tóc bạc đều biết hát quan họ… Nhiều người con của quê hương đi xa cũng không thể nào quên được những âm vang tha thiết đó. 

Người quan họ vốn rất yêu những câu hát làm nên giá trị văn hoá đặc sắc của vùng đất Kinh Bắc, vì vậy mà trong những ngày lễ hội, đặc biệt là những ngày Tết Nguyên đán, đi qua vùng quan họ, nơi nào cũng thấy xốn xang những câu hát ngọt ngào, tha thiết, áo mớ ba mớ bảy, nón quai thao lấp loá đầu làng… Từ những ngày trong Tết, các làng quan họ trong vùng Lim (huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh) đã rộn rã không khí của hội hè, cho dù người dân nơi đây vẫn tất tả ngược xuôi, cấy cày cho kịp thời vụ, buôn bán kiếm tiền cho một cái Tết sung túc, đàng hoàng.

Hội Lim được coi là hội hát quan họ lớn nhất vùng Kinh Bắc được tổ chức vào trung tuần tháng Giêng Âm lịch hàng năm. Ngày 13 chính hội, nhưng từ những ngày sau Tết Âm lịch, trong xóm ngoài làng đã rộn rã tiếng đàn, tiếng sáo hòa vào tiếng hát lảnh lót của các chị Hai, anh Ba. Từ khoảng mùng 10 đến ngày 13, không khí lễ hội rộn rã nhất và du khách thập phương cũng trảy hội đông nhất.

Bên cạnh hội Lim, vùng Kinh Bắc còn nổi tiếng bởi hội làng Diềm (Yên Phong) - nơi có đền thờ Vua Bà, được coi là thủy tổ quan họ, vào 6/2 Âm lịch. Chính làng Diềm mới là nơi “khai sinh” ra quan họ, vì thế quan họ làng Diềm được coi là quan họ “gốc”. Dù hội làng Diềm không nổi tiếng bằng hội Lim, nhưng nó “đậm đặc” chất quan họ hơn, cổ kính và dân dã hơn. Ngoài hai hội làng to nhất là Lim và Diềm thì vùng Kinh Bắc còn nổi tiếng bởi những hội hát quan họ như: Bịu, Ó, Nhồi, Bùi, Bò, Nưa…

Dân ca quan họ là một lối hát giao duyên dân dã, không chỉ đơn thuần là chuyện hát, quan họ còn là mối quan hệ gắn bó tình nghĩa giữa những người hát, còn là phong cách tao nhã, lịch sự của các liền anh, liền chị, một nét đẹp không gian sinh hoạt văn hoá của dân tộc được bồi đắp từ bao đời.

Về Kinh Bắc mùa xuân này, lắng nghe và cảm nhận câu hát quan họ ngày càng thêm thắm nồng, càng bay xa, không chỉ thu hút du khách trong nước mà cả khách nước ngoài cũng tìm về thưởng thức. Và câu quan họ lúc ấy còn là nhịp cầu nối tình hữu nghị không chỉ của mảnh đất ngàn năm văn hiến, mà còn vươn rộng ra những chân trời mới.

PV (Tổng hợp)